Thành phố Huế chọn sản phẩm chủ lực, thúc đẩy nông nghiệp hàng hóa theo chuỗi
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Huế, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn cơ bản ổn định, nhiều vùng sản xuất tập trung và mô hình liên kết giữa người dân, hợp tác xã với doanh nghiệp đã được hình thành, bước đầu tạo nguồn nguyên liệu phục vụ thị trường.
HÌNH THÀNH VÙNG SẢN XUẤT, MỞ RỘNG LIÊN KẾT
Lúa vẫn là cây trồng chủ lực với diện tích gieo trồng năm 2026 đạt 52.781 ha, sản lượng ước 335 nghìn tấn. Trong đó, diện tích lúa chất lượng cao đạt hơn 24.000 ha, tạo dư địa để phát triển các chuỗi sản xuất gắn với tiêu thụ.
Đối với cây ăn quả, thành phố hiện có khoảng 3.788 ha, tập trung vào những sản phẩm có lợi thế như thanh trà, bưởi, cam Nam Đông, chuối, ổi và dứa. Đáng chú ý, Huế đã bước đầu hình thành 18 mã số vùng trồng với tổng diện tích khoảng 141 ha. Đây được xem là nền tảng quan trọng để mở rộng vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc.

Trong lĩnh vực lâm nghiệp, hơn 14.600 ha rừng trồng sản xuất gỗ lớn và khoảng 15.000 ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) đang mở ra hướng phát triển giá trị cao hơn cho kinh tế rừng. Một số mô hình liên kết giữa chủ rừng, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến đã hình thành chuỗi từ vùng nguyên liệu đến khai thác, chế biến và tiêu thụ.
Các chuỗi liên kết cũng được mở rộng trong trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản, tập trung vào lúa giống, lúa chất lượng cao, thanh trà Huế, cam Nam Đông, rau má Quảng Thọ, rau màu VietGAP, chăn nuôi hữu cơ, rừng FSC và các sản phẩm thủy sản đặc sản đầm phá.
Từ năm 2022 đến nay, diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ và theo hướng hữu cơ đạt khoảng 1.940 ha; hơn 100 hộ dân tham gia các chuỗi sản xuất lợn, bò, gà, lúa và cây ăn quả theo hướng hữu cơ.
Vai trò của hợp tác xã trong tổ chức lại sản xuất cũng ngày càng rõ nét. Toàn thành phố hiện có 211 hợp tác xã nông nghiệp hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2023. Nhiều đơn vị đã chuyển từ cung ứng dịch vụ đơn thuần sang tổ chức sản xuất hàng hóa gắn với vùng nguyên liệu, cơ giới hóa, chế biến và tiêu thụ.
Một số hợp tác xã chủ động đầu tư máy móc, xây dựng thương hiệu, hoàn thiện bao bì, truy xuất nguồn gốc và kết nối sản phẩm với các kênh phân phối, qua đó từng bước nâng giá trị nông sản.
KHÔNG PHÁT TRIỂN DÀN TRẢI, TẬP TRUNG SẢN PHẨM CÓ LỢI THẾ
Cùng với tổ chức lại sản xuất, chương trình OCOP đang trở thành một trong những hướng quan trọng để Huế nâng giá trị nông sản và sản phẩm đặc trưng địa phương.
Đến tháng 8/2026, toàn thành phố có 118 sản phẩm OCOP được đánh giá, phân hạng. Trong đó, 63 sản phẩm từ 3 sao trở lên còn thời hạn, gồm 58 sản phẩm 3 sao, 4 sản phẩm 4 sao và 1 sản phẩm 5 sao cấp quốc gia.
Các sản phẩm OCOP của Huế tập trung vào nhiều nhóm như thực phẩm, dược liệu, đồ uống, thủ công mỹ nghệ, sinh vật cảnh, dịch vụ du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái. Sau khi được công nhận, nhiều sản phẩm đã có sự thay đổi về chất lượng, mẫu mã, bao bì, truy xuất nguồn gốc và phương thức quảng bá, tiêu thụ.
Tại cuộc họp về sản xuất nông nghiệp hàng hóa, phát triển OCOP và liên kết chuỗi, ông Lê Trí Thanh, Chủ tịch UBND thành phố Huế, cho biết Huế còn nhiều dư địa phát triển nông nghiệp nhờ lợi thế về điều kiện tự nhiên và hệ sinh thái đa dạng. Thành phố có nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ với hệ thống trường đại học, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành.
Theo đó, ngành nông nghiệp được yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất; tăng cường phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế và các cơ sở nghiên cứu trong lựa chọn giống, chuyển giao kỹ thuật, nâng năng suất và chất lượng nông sản.
Một yêu cầu được nhấn mạnh là thay đổi tư duy sản xuất. Người dân, doanh nghiệp và hợp tác xã cần chuyển từ sản xuất và tiêu thụ riêng lẻ sang hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong dẫn dắt thị trường và tiêu thụ sản phẩm.
Thành phố Huế cũng định hướng không phát triển nông nghiệp theo hướng dàn trải mà lựa chọn một số sản phẩm chủ lực trong lĩnh vực trồng trọt để tập trung đầu tư, phù hợp với lợi thế từng vùng sinh thái.
Đối với cây sen, địa phương yêu cầu xác định rõ khu vực, quy mô vùng trồng ổn định; ứng dụng khoa học kỹ thuật, cải tạo giống, nâng năng suất và chất lượng. Việc phát triển sen không chỉ dừng ở sản phẩm nông nghiệp mà cần gắn với cảnh quan, sinh thái, văn hóa và du lịch, qua đó tạo thêm giá trị cho sản phẩm đặc trưng của Huế.
Tương tự, chuối tại A Lưới và một số cây trồng đặc trưng đã có thương hiệu cũng cần được đánh giá kỹ để lựa chọn hướng đầu tư phù hợp, hình thành vùng nguyên liệu ổn định và nâng khả năng tham gia thị trường.
Trong chăn nuôi, Huế định hướng quy hoạch các vùng chăn nuôi tập trung, bảo đảm an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ môi trường; đồng thời khuyến khích các mô hình hữu cơ, tuần hoàn gắn với hợp tác xã và doanh nghiệp.
Với lâm nghiệp, thành phố tiếp tục phát triển rừng trồng gỗ lớn gắn với doanh nghiệp có năng lực dẫn dắt, hợp đồng liên kết và phương án thu mua ổn định. Cùng với mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC, Huế nghiên cứu từng bước chuyển đổi những diện tích trồng keo sang các loại cây có giá trị kinh tế cao hơn.






